Lợi ích của oxy hóa vi thể

Chính nhờ có oxy hóa vi thể mà các chất chuyển hoá của một số hợp chất được hoạt hóa và có thể tham gia vào việc tạo ra các mối liên hệ đồng hóa vi thể có thể biến các chất tiền ung thư hòa tan trong mỡ thành các chất ung thư
Các chất men dạng protein được tổng hợp tích cực dưới dạng tác động của các tín hiệu tương ứng bên trong tế bào. Đây là cơ chế ngăn ngừa nhiều tác động gây tổn thương. Hệ thống bảo vệ của môi trường bên trong cơ thể rất bền vững; đó là biểu hiện của tăng sự sống xuất hiện trong quá trình tiến hóa. Nó đảm bảo cho cơ thể hoạt động ổn định. Khả năng thích nghi của hệ thống giảm khi về già.
Hệ thống giải độc của tế bào gan chịu sự kiểm tra của thần kinh – thể dịch. Lúc già sự thể hiện của ảnh hưởng thần kinh, phản ứng đối với các hormone thay đổi. Đó có thể là một trong số các nguyên nhan làm thay đổi trong hệ thống giải độc của gan. Trong một thời gian khá dài người ta đã cho rằng, sự vận chuyển sinh học các chất trong cơ thể là một yếu tố giải độc. Hiện nay người ta xác định được – chính nhờ có oxy hóa vi thể mà các chất chuyển hóa của một số hợp chất (các hydrocacbon đa vòng, naphtochinon và một số amin thơm) được hoạt hoá và có thể tham gia vào việc tạo ra các mối liên hệ đồng hoá vi thể có thể biến các chất tiền ung thư hòa tan trong mỡ thành các chất ung thư. Nhiều nhà nghiên cứu coi đây là cơ chế giữ vai trò quan trọng đối với việc phát triển ung thư.
Mọi mặt trong hệ thống sống đều liên quan mật thiết với nhau. Xét về mặt bảo vệ có thể coi cơ chế oxy hóa vi thể là nguồn tạo ra tổn thương. Một trong số các cơ chế này là sự hoạt hóa oxy hoá vi thể xảy ra đồng thời với việc tạo ra gốc tự do – nguồn gốc tổn thương tế bào.
Những chất hoà tan trong nước được tạo thành trong quá trình chuyển hoá ở gan sẽ do thận đào thải. Nồng độ của bất kỳ chất nào cũng phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của nó vào máu và tốc độ đào thải. Thận của người già thường có nhiều thay đổi, thận được tạo thành bởi nhiều cầu thận riêng biệt, lúc già số lượng cầu thận giảm đi từ 25-35%. Vì vậy khả năng đào thải các chất điện giải và chất độc giảm rất nhiều.
Không chỉ có tích tụ hoá chất trong máu mà cả sự thay đổi độ nhạy cảm đối với hoá chất cũng giữ vai trò quan trọng đối với cơ thể tự dưỡng. Tăng độ nhạy cảm đối với hóa chất lúc già. Có thể kết luận rằng, muốn cho các sản phẩm của hoạt động sống không gây ảnh hưởng phải tránh cho chúng tích tụ lại.
Trong quá trình phát triển theo giai đoạn đã xuất hiện các mối tương quan phức tạp giữa các quá trình ngộ độc và giải độc.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *